Cua xanh có tên tiếng Anh là Indo-Pacific swamp crab, Serrated mud crab, Giant mud crab, Giant green crab; Tên khoa học là Scylla serrata (Forskal,1775).

Ở Việt Nam chúng còn được gọi là cua bùn, cua đen, cua bể, cua biển. Ngoài ra chúng cũng có một số tên tiếng Anh khác là Green mangrove crab, Mangrove swimming crab, Stone crab. Đây là một loài cua biển thuộc chi cua (Scylla) trong họ Cua bơi hay họ Cua ghẹ (Portunidae), bộ giáp xác mười chân (Decapoda), lớp Giáp mềm, Mai mềm (Malacostraca) của phân ngành Động vật giáp xác (Crustacea).

1. Thông tin:

- Xuất xứ Vũng Tàu.

- Size 0.3 - 0.4 kg/con:   Liên hệ.
- Size > 0.4 - 0.6 kg/con:  Liên hệ.

- Size > 0.6 - 0.8 kg/con:   Liên hệ.
- Size > 0.8 - 1.0 kg/con:   Liên hệ.
- Size > 1.0 - 1.2 kg/con:   Liên hệ.

- Size > 1.2 - 1.4 kg/con:   Liên hệ.
- Size > 1.4 - 1.5 kg/con:   Liên hệ.
- Size > 1.5 kg/con:   Liên hệ.

2. Đặc điểm:

Cua xanh thường được tìm thấy ngoài khơi trên các nền đáy bùn mềm ở độ sâu từ 0 - 50m. Chúng phân bố rộng khắp các vùng biển trong Ấn Độ Dương - Tây Thái Bình Dương, trải dài từ Nam Phi, Hồng Hải, Philippines, các đảo trên Thái Bình Dương (Fiji, quần đảo Solomon, New Caledonia vàTây Samoa), Malaysia, Singapore đến Đài Loan, Nhật Bản, Australia. Chúng cũng thường sinh sống ở các khu vực thực vật ngập mặn và chọn những gốc cây đước sú vẹt làm hang. Tại Việt Nam, cua xanh có mặt ở hầu hết các vùng biển và trong các ao, đầm nước lợ.

Tên gọi "Cua xanh" có thể gây nhầm lẫn với một loài cua khác cũng được gọi là cua xanh ở Việt Nam là Cua sen/Cua sú (Tên tiếng Anh là Green mud crab, Mud crab; Tên khoa học là Scylla paramamosain - Estampador, 1949). Cua sen (Cua sú) có hình dáng và màu sắc xanh tương tự như Cua xanh nhưng trên thân không có sắc vàng như Cua xanh.

Cua xanh có mai rộng, trán láng, chiều dài gần bằng 3/4 chiều rộng. Vùng trước dạ dày có đường ngang không rõ ràng. Vùng mang có một đường ngang hình vòng cung kéo dài đến khoảng 1/4 chiều rộng của mai thì biến mất. Trán có 4 răng (không kể răng trong hốc mắt), đỉnh tù, đôi răng thứ nhất hướng thẳng về phía trước, đôi răng thứ 2 hướng vào phía trong hốc mắt. Đôi càng to chắc, không đối xứng. Chân bò thứ 3 dài nhất. Chân bò thứ 5 có dạng mái chèo và có lông. Mặt lưng của đôi càng và các đôi chân bò có hoa vân xanh nhạt lốm đốm vàng. Mai có màu xanh lam sẫm gần như đen. Mắt kép rất phát triển, khứu giác cũng rất phát triển giúp phát hiện mồi hay kẻ thù từ bốn phía và có khả năng hoạt động mạnh về đêm.

 
 
Cua xanh có tính ăn thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển. Ở giai đoạn ấu trùng, chúng thích ăn thực vật và động vật phù du. Ở giai đoạn cua non, chúng chuyển sang ăn tạp như rong to, giáp xác, nhuyễn thể, cá hay xác chết động vật. Khi trưởng thành, chúng thường ăn cua nhỏ, cá nhỏ... Mặc dù nhu cầu thức ăn của cua xanh khá lớn nhưng chúng lại có khả năng nhịn đói từ 10 - 15 ngày.
 
Tuổi thọ trung bình của cua xanh từ 2 - 4 năm. Qua mỗi lần lột xác trọng lượng cua tăng trung bình 20 - 50%. Kích thước tối đa của cua xanh có thể từ 19 - 28cm với trọng lượng từ 1 - 3kg/con. Thông thường trong tự nhiên cua có kích cỡ trong khoảng 7.5 - 10.5 cm. Với kích cơ tương đương nhau về chiều dài hay chiều rộng mai thì cua đực nặng hơn cua cái.
 
Cua xanh là loài gonochoric (tức là có 2 giới tính riêng biệt) và là lưỡng hình giới tính (sexually dimorphic: các loài mà giới đực và giới cái khác nhau về mặt hình thái hoặc cấu trúc cơ thể) dựa trên các đặc tính thứ cấp. Cua xanh cái đẻ trứng khi được khoảng 1 năm tuổi. Trong đàn cua sinh sản có thể gặp những cua xanh có kích thước khác nhau. Cua xanh cái mang trứng có trọng lượng từ 150 - 850g. Cua có trọng lượng trên 800g có thể đã ở năm thứ 3. Số lượng trứng của cua đẻ rất lớn. Một cua xanh cái có trọng lượng 300g có thể đẻ và mang trên 1 triệu trứng. Trong mùa sinh sản một cua xanh cái có thể đẻ trứng nhiều lần (đến 3 lần). Trứng lúc đẻ ra có đường kính trung bình 300µm.
 
Cua xanh là một trong những loài cua biển được khai thác tự nhiên mạnh ở Việt Nam. Mùa khai thác thường diễn ra từ tháng 2 - tháng 10.  Những năm gần đây do nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tăng nên cua xanh được nuôi phổ biến khắp các tỉnh ven biển Việt Nam, đặc biệt là vùng cửa sông Châu thổ phía Bắc (Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định) và các tỉnh Duyên hải Nam bộ. Sản phẩm cua lột hiện nay là mặt hàng thực phẩm phổ biến có giá trị xuất khẩu cao, được chế biến thành sản phẩm cua tẩm bột chiên, một món ăn hấp dẫn và quen thuộc đối với thị trường châu Á, xu hướng này vẫn đang mở rộng sang nhiều thị trường khác trên thế giới.
 
3. Các món ngon từ cua xanh:
 
Thành phần dinh dưỡng trong cua xanh rất phong phú, hàm lượng Protein cao hơn nhiều so với thịt heo hay cá. Ngoài ra Calci, Photpho, Sắt và các Vitamin A, B1, B2, C… cũng chiếm ở mức cao. Cua xanh còn chứa một lượng lớn Calcium, Magnesium và acid béo omega 3 rất tốt cho tim, mạch. Một số nghiên cứu dinh dưỡng còn ghi nhận cua giúp làm giảm Cholesterol xấu và Triglycerides trong máu. Thịt cua xanh có vị ngọt, mặn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, sinh huyết, tán ứ, giảm đau, bổ xương tuỷ nên rất tốt cho cơ thể đang phát triển ở trẻ nhỏ và tình trạng suy yếu ở người cao tuổi. Tuy nhiên vì cua có chứa nhiều sodium và purines nên không thích hợp với người cao huyết áp và bị gout. Những người bị cảm gió, sốt, mắc bệnh dạ dày, tiêu chảy cũng không nên ăn.
 
Có rất nhiều món ăn ngon, hấp dẫn được chế biến từ cua xanh. Đầu tiên ngâm (với cua sống) trong khoảng 5 - 10' rồi rửa sạch vỏ cua, càng, chân và bụng cua. Sau đó tùy theo món ăn muốn chế biến mà có thể xé cua, tách phần mai ra và bỏ phần tam giác trong bụng cua đi, gạt gạch cua và trứng cua ra bát, chỉ để lại phần thịt và các chân.
 
Cua xanh đã làm sạch có thể chế biến bằng nhiều cách như:  Hấp, luộc, nấu cà ri, nấu lẩu hoặc xốt me, xốt bơ tỏi nguyên con, tách lấy thịt xào, chiên hoặc nấu cháo, nấu cà ri, nấu súp, bánh canh...

 

(Tổng hợp - St)

Ăn hải sản tự nhiên là bảo vệ cho sức khỏe